Ấn tượng ban đầu khi đọc lướt qua nhanh từng bài trong 2 tập “Đối thoại với bóng”, “Em lót thảm đợi anh” là thơ Hà Hồng Hạnh có một mạch đi rất rõ: từ thiên nhiên đến con người, từ hiện tại về ký ức, rồi khép lại bằng một dư vị tình cảm lắng sâu. Ngôn từ thơ chị không phô diễn, rất mộc nên rất chạm cảm xúc.
Đọc Hà Hồng Hạnh có cảm giác bước vào một miền núi cao phủ sương, nơi mọi vật đều chầm chậm và ký ức có mùi nhựa cây. Ở nhiều bài, chị mở ra bằng không gian núi rừng: sương, gió, khèn, váy xòe, bếp lửa… Thiên nhiên ở đây được làm nền, sống cùng con người, ôm lấy con người. Từ cảnh ấy, cảm xúc dần lộ ra: nỗi nhớ, sự chờ đợi, tình yêu, ký ức tuổi thơ.
Ngôn ngữ thơ chị giản dị, trong trẻo. Ít ẩn dụ cầu kỳ, ít kỹ thuật. Cái gợi nằm ở sự chân thật và không khí vùng cao hiện lên tự nhiên rất có hơi người.


Cấu trúc các bài thơ đều có sự vận động rõ ràng. “Hoa văn nơi gấu váy” mở ra bằng một không gian dữ dội: tia sét, màn đêm, gió rít. Từ cái nền đậm màu ấy, hình ảnh “sơn nữ”, “vách đá”, “chim ngũ sắc” hiện lên như một truyền thuyết còn dang dở. Bài thơ không tản mạn mà đi theo trục: thiên nhiên dữ dội mà con người luôn kiếm tìm lời hẹn và sự vắng bóng. Cảm xúc được dẫn dắt có chủ ý, không đứt đoạn. Ví dụ ở bài “Lý giải”, mạch thơ chuyển từ những mảng màu hỗn độn của ngoại cảnh vào chiều sâu ký ức. Hình ảnh “bức tường cuối con đường”, “người đàn bà điên”, “ly cà phê đắng”, “cây dạ hương bỏ đi từ ba mươi năm trước” tạo nên một không gian vừa thực vừa mơ. Các chi tiết tưởng rời rạc nhưng lại được xếp lớp ký ức rất chặt chẽ. Ký ức hiện lên qua từng tầng, và kết lại bằng “mùi hương khảm vào lòng em” như một dấu ấn riêng tư.
Ví dụ về một bài thơ viết về ký ức: “Ký ức” là lát cắt chân thực về tuổi thơ những năm 80 nghèo khó, được kể bằng giọng điệu thủ thỉ ám ảnh. Ngay từ câu mở đầu: “Tôi ra đời giờ tí / đêm kín bưng”, không gian đã đặc quánh bóng tối. Ánh sáng “lập lòe chiếc bóng xanh”, gợi một thời thiếu thốn, chập chờn giữa sáng và tối. Cái nghèo hiện lên rất cụ thể qua hình ảnh “bếp lửa leo lét”, qua “căn nhà nhỏ bốn bề gió thốc”, qua tiếng “khóc xé toạc màn đêm” của một sinh linh bé nhỏ. Tuổi thơ ấy lớn lên trong thiên nhiên khắc nghiệt: “tôi tắm trong dòng nước suối từ dải ngàn Tam Đảo”, nghe “truyền cổ tích ấm nồng trong miếng trầu cay”, sống giữa “mùa đông nứt nẻ cánh đồng”, giữa hương lúa, deo bùi sắn khoai. Những chi tiết rất đời, rất thật không hề tô vẽ. Đặc biệt, hình ảnh lặp lại của “chiếc bóng” tạo nên trục cảm xúc của bài thơ: “chiếc bóng xanh chẳng thể lọt qua khe cửa”, rồi đến “chiếc bóng của tôi ẩn trong chiếc bóng mẹ cha”. Bóng là bóng nghèo, bóng lam lũ, và cả bóng chở che. Đứa trẻ lớn lên trong bóng tối vật chất nhưng được bao bọc bởi ánh sáng tình thân. Một thời “nứt nẻ cánh đồng” mà lòng người vẫn mềm như lời ru của bà.
“Một chút tưởng tượng” và “Em về với thế giới đa sắc” lại mở ra thế giới vùng cao bằng ánh sáng lân tinh, rừng rậm, côn trùng…tiếng thở của rừng. Ở đây, thiên nhiên là phông nền, là một sinh thể sống động, bao bọc con người. Nhịp thơ êm nhẹ khiến không gian như có sương mỏng phủ lên. Mạch thơ đi từ huyền ảo đến tình yêu, từ rừng đến vòng tay tạo thành một vòng khép kín: rừng ôm người, người ôm người.
Đặc biệt, “Tiếng khèn dụ em lạc lối” và “Đợi ngày đông chí” cho thấy rõ dấu ấn vùng cao. Núi, sương, khèn, váy xòe, lúa nương, thảo nguyên, bếp lửa, mèn rượu… hiện lên tự nhiên không phô trương. Ngôn từ trong sáng ít ẩn dụ cầu kỳ. Cái đẹp nằm ở sự chân thật của hình ảnh. Tiếng khèn là âm thanh, là nhịp gọi của núi rừng, là sợi dây nối tình yêu và bản làng. Ở “Đợi ngày đồng chí”, ký ức tuổi thơ, bà, mẹ, bếp lửa, dòng suối Tam Đảo… tạo nên một trường cảm xúc ấm áp.
Điểm nổi bật trong thơ Hà Hồng Hạnh là hình ảnh mang đậm bản sắc vùng cao nhưng không bị “đặc sản hóa”. Núi rừng hiện ra bằng chi tiết cụ thể, đời sống cụ thể. Ánh sáng lân tinh, mưa trắng xóa, váy xòe qua suối, khèn reo, bắp chân tròn, men rượu… tất cả làm nên một không gian rất có hơi người. Thiên nhiên và con người quấn vào nhau như “sợi lanh dệt váy”.
Thơ chị rất mộc, ngôn từ thơ như có sẵn trong con người thơ. Chính sự mộc ấy làm nên độ tin cậy của cảm xúc. Gợi cho người đọc mường tượng về bản làng, về một vùng núi cao xa xôi. Đọc chị là đi qua một miền có sương, có khèn, có bếp lửa và có một trái tim đầy yêu thương.
Vài nét về tác giả: Hà Hồng Hạnh sinh năm 1980, hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, hiện làm việc tại Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Thái Nguyên. Tác phẩm đã xuất bản: “Đối thoại với bóng” (NXB Hội Nhà văn, 2025); “Em lót thảm đợi anh” (NXB Hội Nhà văn, 2026). Giải C cuộc thi thơ Làng Chùa “Thơ ca và nguồn cội” lần thứ 3 năm 2025; Giải C Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2025…

N.H.A.T