Sau “Một ngày nát vụn” “Một ngày lưng lửng” và “Mưa ở Bình Dương”, “Ai nói và tại sao lại nói như thế” là tập truyện ngắn thứ 4 của tác giả Văn Giá. Không xây dựng những biến cố lớn hay kịch tính cao, tập truyện ngắn này chủ yếu khai thác đời sống con người trong những mối quan hệ xã hội thường nhật. Ngôn ngữ của tập truyện cũng vì thế mang màu sắc khẩu ngữ đậm nét. Hệ thống từ khẩu ngữ được sử dụng với tần suất cao, đa dạng về sắc thái, linh hoạt về chức năng, góp phần khắc họa tính cách nhân vật, tái hiện bối cảnh giao tiếp, đồng thời bộc lộ quan điểm và chiều sâu tư tưởng của tác giả.

Hiện tượng dùng từ chêm xen để tạo nên các kết hợp giàu giá trị ngữ nghĩa và dụng học là đặc trưng nổi bật của màu sắc khẩu ngữ trong “Ai nói và tại sao lại nói như thế”. Về cấu trúc, hiện tượng này xuất hiện dưới 2 dạng thức:
-Dạng thức 1: AB A’B’ (trong đó AB là từ thường dùng A’B’ là biến thể được tạo ra từ AB) như chính trị chính em, vụ phó vụ phiếc, cà phê cà pháo, tỉ lệ tỉ leo, nghiên cứu nghiên cò, thiết chế thiết chiếc, tối giản tối giếc, măn ni măn niếc, lạ hoắc lạ hơ… Những kết hợp này thường mang sắc thái giễu nhại, mỉa mai hoặc phê phán kín đáo. Chẳng hạn sử dụng chính trị chính em, vụ phó vụ phiếc, thiết chế thiết chiếc… làm suy giảm tính trang trọng, nghiêm cẩn vốn có của khái niệm; sử dụng nghiên cứu nghiên cò, tỉ lệ tỉ leo… lại nhấn mạnh tính tùy tiện, thiếu nghiêm túc của hoạt động được nhắc đến.
-Dạng thức 2: XAXB (trong đó AB là từ ghép có hai yếu tố có quan hệ gần nghĩa, X là yếu tố chêm xen) như chết tàu chết xe, chạy chức chạy quyền, dở tính dở nết, ăn bớt ăn xén, chuyển mồ chuyển mả, động mâm động bát, cười nghiêng cười ngả, đủ kiểu đủ dạng… Các kết hợp được tạo ra từ dạng thức này mang nghĩa khái quát, nhấn mạnh mức độ, cường độ hoặc tính nghiêm trọng của hiện tượng.
Bên cạnh từ chêm xen, hệ thống từ ngữ lóng cũng được sử dụng khá phong phú góp phần thể hiện sắc thái trào lộng, phản biện nhẹ nhàng mà thấm thía trong sáng tác của Văn Giá. Đó là những từ láy như mạng miếc (“Mà ông cũng hạn chế chơi mạng miếc đi” –tr20); mạng meo (“Báo chí phim ảnh mạng meo quán xá như thế thì còn gì bọn trẻ nữa hả giời.” tr 55); chát chít (“Như vậy thì khó có thể vào Iphone, khó có thể chát chít.” – tr 57); xà xẻo (“Sinh ậm ừ, cái nghề giáo chức của tao đếch có gì để xà xẻo.” – tr 9); xàng xê (“Mày tính, nếu không vượt rào tí, xàng xê tí, nhất là các khoản chi tiêu”…tr 9); thẳng thớm (“Vẫn bộ complet thẳng thớm”… tr 26)… từ đơn như ngoẻo, toi, tèo, (“bàn dân thiên hạ đồn rầm rầm thằng ấy ngoẻo rồi, toi rồi, out rồi, tèo rồi” – tr9); chém (“chém hơi ghê răng” –tr 59); xẻo (“cứ xẻo một mét đường nhựa thôi là đã có một món to rồi” – tr 12); cống (“bao nhiêu tiền lại chả cống cho con nào” – tr 12), nống (“họ cứ nống giá lên là toi” – tr 162); ẻm (“bọn nó còn đưa cả hình tay này ngồi với các ẻm nữa cơ.”- tr 9)… từ ghép như đắp chiếu, bám đít (“Suốt ngày bám đít mẹ chưa chán à?” –tr 57); đánh chiếm (“Khi đủ lực nó đánh chiếm Hà Nội theo cách ngon ơ.” –tr.12). Dạng lóng vay mượn cũng có xuất hiện ở một số trường hợp như out, phây, dzô, ây ai, bây bi…
Trong tập truyện ngắn này, từ ngữ thông tục cũng trở thành một “đặc sản” ngôn ngữ góp phần tạo nên diện mạo phong cách của tác phẩm. Việc huy động lớp từ này khiến ngôn ngữ trần thuật và đối thoại mang đậm sắc thái khẩu ngữ, gần với đời sống sinh hoạt hằng ngày, nhờ đó thế giới nghệ thuật của truyện hiện lên chân thực và “đời” hơn. Có thể kể đến các đơn vị như tẹo (“Mà bây giờ mới có hơn bẩy giờ tẹo.” – tr.21)đận (“Nhất là những đận hướng dẫn luận văn luận án cho học viên, muôn phần vất vả” – tr.30), cay, đếch (“cay chứ ông, nhưng đếch làm gì được” – tr.11), mất đứt (“Từ Hà Nội lên tới nơi tôi công tác mất đứt hai ngày xe khách” – tr.74), bốc máy (“bốc máy gọi lại, nó bảo, thôi chết em đang ở xa không về kịp giờ này” – tr.126), cùng hàng loạt từ ngữ suồng sã như cha, bố, ăn cứt, đi ỉa, làm cứt gì, đ…, vác dái, mẹ kiếp, chó, mẹ gì…. Những yếu tố ngôn ngữ này góp phần gia tăng tính hiện thực và sắc thái biểu cảm của tập truyện.
Ngoài ra, hệ thống quán ngữ tình thái được sử dụng với mật độ cao trong ngôn ngữ trần thuật của tập truyện như tiếc gì, thôi chết, thì khốn, ôi giời, ối dào, tội quái gì, khổ nỗi, ai dè, hóa ra, chả lẽ, chưa biết chừng, ngộ nhỡ… Đây đều là những quán ngữ có khả năng biểu đạt trực tiếp thái độ, cảm xúc và cách đánh giá của người nói đối với sự việc được kể. Nhờ vào việc sử dụng các quán ngữ tình thái, giọng điệu trần thuật không còn giữ vị thế trung tính, khách quan mà thường nghiêng về phía bình luận, cảm thán. Ranh giới giữa lời trần thuật và lời đối thoại cũng vì thế được làm mờ, tạo cảm giác như người kể đang trực tiếp trò chuyện với bạn đọc.
Thông qua việc phân tích lớp từ khẩu ngữ trong Ai nói và tại sao lại nói như thế?, có thể thấy khẩu ngữ không chỉ là một phương tiện biểu đạt mang tính tự nhiên của lời nói đời thường mà còn là một yếu tố nghệ thuật có ý thức trong tổ chức ngôn ngữ văn bản. Từ khẩu ngữ góp phần tạo nêngiọng điệu trần thuật gần gũi, sống động, giúp tập truyện đạt tới hiệu quả hiện thực mạnh mẽ.
Lê Thị Thùy Vinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2