Kế bên khu đô thị Ecopark xanh mát, nơi những khối nhà vươn cao kiêu hãnh giữa rừng, có một khoảng lặng đầy mê hoặc dẫn dụ bước chân người lữ khách. Đó là tư gia và xưởng chế tác của Nghệ nhân Ưu tú Trần Nam Tước – một “kỳ tài” của làng gốm và điêu khắc đương đại. Theo chân nhà thơ Vũ Mai Phong, chúng tôi bước vào một không gian mà ở đó, thời gian như ngưng đọng trong từng thớ gỗ, từng nét chạm gốm và cả những câu chuyện lịch sử bị lớp bụi thời gian che phủ.
Những bậc thang dẫn về nguồn cội
Ấn tượng đầu tiên không phải là những bằng khen danh giá từ Hội Mỹ thuật Việt Nam hay giải Quốc gia, mà chính là ngôi nhà truyền thống Bắc Bộ nằm lặng lẽ trên tầng 3 của khu nhà xưởng của vợ chồng nghệ nhân Trần Nam Tước và Phạm Minh Uyên. Đây là một sự sắp đặt đầy ngẫu hứng nhưng sâu sắc: đặt một tâm hồn cổ xưa lên trên nền móng của sự phát triển hiện đại.
Trần Nam Tước đã dành 7 năm ròng rã để tự tay thiết kế và hoàn thiện “đứa con tinh thần” này. Giữa thời đại mà máy móc đang dần thay thế con người, Nam Tước chọn con đường khổ hạnh của thủ công. Anh tự tay đục đẽo từng cánh cửa gỗ, từng chiếc rui, vì, kèo. Anh tâm sự: “Tiếc cho tay nghề thợ Việt mình lắm, nếu cứ làm máy mãi thì sẽ mai một đi. Làm máy chỉ cho ra những sản phẩm dập khuôn, vô hồn”. Cái hồn ấy còn thấm đẫm trong từng viên gạch lát nền Bát Tràng được khắc tay tỉ mỉ, nơi mỗi hoa văn là một dấu ấn độc bản của người nghệ sĩ.

Giải mã huyền thoại và gốc rễ Mẫu hệ
Trong không gian đậm chất tâm linh ấy, nhà thơ Vũ Mai Phong bắt đầu dẫn dắt chúng tôi vào thế giới của những pho tượng. Tâm điểm là tác phẩm cụ Ma Nương ở chùa Dâu – người sinh ra Tứ Pháp: Pháp Vũ, Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Điện.

Dưới góc nhìn của nhà thơ, hình ảnh cụ Ma Nương không chỉ là một truyền thuyết tôn giáo đơn thuần mà là hiện thân của chế độ Mẫu hệ Việt Nam rực rỡ. Cụ Ma Nương theo sự tích ở chùa Dâu đã ướm chân mình vào dấu chân của vị sư, sau đó mang thai và sinh ra tứ Pháp. Tại sao dân ta hay có chuyện ướm chân rồi mang thai? “Đấy là gốc của Mẫu hệ,” nhà thơ Vũ Mai Phong khẳng định, “Vì không cần biết bố là ai, nhưng luôn biết chắc chắn người mẹ của mình”. Sự giải mã này còn đi xa hơn khi anh đối chiếu lịch sử: Cụ Ma Nương chính là Chúa Tằm Tang – người dạy dân trồng dâu nuôi tằm. Trong hệ quy chiếu đạo Mẫu, Mẫu Thượng Thiên chính là cụ Đỗ Quý Thị (chính thất Đế Minh), Mẫu Thượng Ngàn là chính thất Kinh Dương Vương, còn cụ Âu Cơ chính là Mẫu Thoải.

Nghệ nhân Trần Nam Tước đã biến những lý thuyết văn hóa sâu xa ấy thành hình khối. Anh không “đọc gì nói thế”, anh tạc tượng bằng sự thấu hiểu về những giá trị lịch sử từng bị bóp méo qua thăng trầm thời đại.
“Bàn tay vàng” phục chế và kỹ thuật tâm truyền
Trần Nam Tước sinh năm 1974 tại Kiến Xương, Thái Bình (nay thuộc Hưng Yên), trong một gia đình không ai làm nghệ thuật. Anh là minh chứng cho việc năng khiếu bẩm sinh kết hợp với đam mê tột cùng sẽ tạo nên kỳ tích. Với “7 hoa tay” thiên phú, anh tự học, tự rèn, từ cậu bé lớp 2 biết uốn cây cảnh trở thành một nghệ nhân phục chế hàng đầu.
Kỹ thuật phục chế của anh không chỉ là sửa chữa, mà là “hồi sinh”. Trong hơn 10 công trình trùng tu tại Huế và các di tích triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần…, Trần Nam Tước áp dụng những nguyên tắc khắt khe:
Kỹ thuật mộng gỗ cổ: Không dùng đến một chiếc đinh sắt, các cấu kiện gỗ được liên kết bằng mộng khít khao, đảm bảo độ bền hàng trăm năm.
Nhuộm màu thời gian cho gốm: Anh sử dụng các loại men hỏa biến, men rạn tự nghiên cứu để khiến những viên gạch, con giống mới làm ra mang vẻ rêu phong, trầm mặc như đã tồn tại từ thiên niên kỷ trước.
Am tường quy thức: Anh nằm lòng sự khác biệt giữa con rồng thời Lý mềm mại và con rồng thời Nguyễn uy nghiêm, giúp các di tích phục dựng đạt đến độ chuẩn xác tuyệt đối về văn hóa.

Người nghệ sĩ của biển đảo và tâm linh
Dấu chân nghệ thuật của Trần Nam Tước không dừng lại ở đất liền. Anh mang tâm huyết ra tận Trường Sa, Bạch Long Vỹ, Hòn Dáu. Anh tạc tượng tại nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phục dựng đền Mẫu Liễu Hạnh… Đâu đâu cũng thấy bàn tay tài hoa của người con đất Thái Bình.
10 năm trước, anh làm kiến trúc để tích lũy kinh tế, nhưng giờ đây, gốm và các công trình di tích mới là nơi anh trao gửi tâm hồn. Anh là tác giả của những bộ tác phẩm được bảo tàng quốc gia lưu giữ – một sự ghi nhận cao quý cho người nghệ nhân tài hoa với đôi tay vàng bền bỉ.
Rời khỏi ngôi nhà của Trần Nam Tước, tôi vẫn lưu nhớ mãi hình ảnh cây đào tiên (trứng gà) cảnh với dáng uốn nghệ thuật, khoe quả vàng hườm bên khu rừng Ecopark lãng mạn. Cây đào tiên ấy cũng giống như cuộc đời anh: dù trải qua uốn nắn khắt khe của nghề nghiệp, vẫn kết ra những trái ngọt nghệ thuật cho đời.
Trần Nam Tước anh đang tạc lại vóc dáng của lịch sử bằng tất cả trái tim của mình trên đất, gỗ, đồng… Giữa thế giới công nghiệp hóa, anh chính là người giữ lửa, để những giá trị Việt không bao giờ nguội lạnh.
(Ghi chép của Lâm Văn)