Nguyễn Đức Tùng là một kỹ sư, hơn hết là doanh nhân có những thành tựu lớn, đồng thời ông cũng là một người lính, một nhà thơ. Đầu năm 2026, độc giả thi đàn Việt chào đón tập thơ mang tên “Dặn con…”, bao gồm hơn 200 trang thơ được Nguyễn Đức Tùng sáng tác từ năm 1963 đến năm 2025.
Tìm mới trong cũ, làm người đọc thích thú
Nguyễn Đức Tùng bắt đầu làm thơ từ thời còn là cậu học trò phổ thông ở một vùng quê trung du Phú Thọ. Hồn thơ cũng là tính cách ông: Giản dị và chân thật. 6 dòng “Thay lời mở đầu” bày tỏ gần như trọn vẹn lý do ông gắn bó với thơ trọn đời:
“Làm việc, khuây khỏa bằng thơ/ Chắt chiu một thuở, bây giờ tặng nhau…/ Muốn hay hơn chẳng có đâu/ Nghĩ sao viết vậy, vài câu gọi là…/ Thôi thì theo nếp ông cha/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài…”
Vậy mà, “vài câu gọi là…” ấy lại khiến nhà thơ Trần Đăng Khoa xúc động và tâm đắc. Nhận định về Nguyễn Đức Tùng, Trần Đăng Khoa nói: “Thơ Nguyễn Đức Tùng đầy sự phát hiện một cách trí tuệ, chỉ ra những nét mới trong cái bình thường đến mòn cũ, làm người đọc thích thú.”
Trong bài “Có một con đường”, nhớ về những đồng đội năm xưa, Nguyễn Đức Tùng viết: “Năm mươi năm sau, kẻ mất người còn…/ Những người lính tìm nhau bằng trí nhớ/ Rủ nhau vào chiến trường xưa cũ/ Rừng đã hồi sinh, đường dây cũng không còn…”
Có lẽ đây là một trong những bài mà tác giả khiến độc giả ngậm ngùi nhất. Trong dòng chảy lịch sử, vô số nhà thơ đã dùng tài năng của mình ghi lại sự quý trọng tình bạn, nỗi buồn khi chia ly và niềm nhớ mong. Có cảm giác, tình bạn, tình đồng đội là sợi dây cảm xúc quý giá nhất của con người, từ xưa đến nay luôn là chủ đề bất diệt trong văn chương, thi ca. Nguyễn Đức Tùng cũng vậy.
Thơ ông, với sức hấp dẫn nghệ thuật độc đáo đã biến những cảm xúc trừu tượng thành hình ảnh cụ thể, để người đọc sau nhiều năm, vẫn cảm nhận được tình bạn chân thành ấy. Miêu tả tình bạn trong thơ không chỉ ghi lại hành trình cảm xúc cá nhân mà còn phản ánh bối cảnh xã hội và tâm lý văn hóa của từng thời kỳ lịch sử, mang giá trị văn học và ý nghĩa lịch sử rất cao.
Trong xã hội hiện đại, khi vật chất dồi dào nhưng cảm giác cô đơn tinh thần ngày càng tăng, đọc lại những câu thơ về tình bạn mang ý nghĩa đặc biệt. Chúng nhắc nhở ta rằng, trong thời đại giao tiếp số hóa, những trao đổi cảm xúc chân thành và tình bạn sâu sắc vẫn là nhu cầu tinh thần không thể thiếu của con người.
Càng trải qua thời gian, càng trở nên quý giá
“Đêm Vĩnh Sơn trăng rơi đầy mái lán/ Suối thì thầm dạo nhạc dưới khe sâu/ Quên mọi nhọc nhằn ngày mai gian khó/ Ngồi xem em múa điệu múa hái dâu…” (Nghe hát ở Vĩnh Sơn).
“Đời người như nước sông trôi/ Thác ghềnh đoạn trước, đắp bồi đoạn sau/ Trời thương run rủi gặp nhau/ Khi hai mái tóc trên đầu pha sương…” – (Chuyện dân gian).
“Tình yêu những nhớ cùng mong/ Trái tim mùa Hạ, tấm lòng mùa Thu…” – (Mùa trong ta).
“Dặn con” chứa đựng vô số câu thơ đẹp, chúng lấp lánh như những vì sao, chiếu sáng những góc mềm mại sâu thẳm trong tâm hồn người. Mỗi câu đều kể về những tình cảm chân thành và đẹp đẽ giữa người với người, chính sự tinh khiết này khiến con người cảm nhận được sự ấm áp, an ủi và hy vọng trong cuộc sống.
Nguyễn Đức Tùng khiến người đọc tự nguyện để thơ ca dẫn dắt tâm hồn, trân trọng từng mối duyên chân thành xung quanh, để những cảm xúc đẹp, như những câu thơ kinh điển, càng trải qua thời gian càng trở nên quý giá.
Với Nguyễn Đức Tùng, thơ ca để bày tỏ cảm xúc, làm cho cuộc sống thêm phần lãng mạn, đầy màu sắc. “Dặn con…” có những bài thơ như vậy, khi đọc khiến tâm trạng nhẹ nhàng và vui vẻ, thoải mái và dễ chịu.
“Dịu dàng như áng mây trôi/ Dịu dàng như đất với trời nhìn nhau/ Dịu dàng trăng sáng đêm thâu/ Dịu dàng hương bưởi, hương ngâu, tóc thề…” – (Dịu dàng).
Áng mây, trăng đêm, hương bưởi, tóc thề… Tất cả tạo nên một bức tranh sống động và đầy mê hoặc. Nhà thơ thong thả dẫn người đọc bước vào không gian an nhàn, để rồi nhận ra cuộc sống có quá nhiều điều tuyệt vời, chỉ có thể cảm nhận được bằng một tâm hồn tĩnh lặng.
Đặt ở trung tâm tập thơ chính là bài “Dặn con…”, cũng là tác phẩm Nguyễn Đức Tùng dốc hết tâm can để viết:
“Đời bao nhiêu nỗi ưu tư/ Tranh công, đổ lỗi, thị phi, nhiều lời/ Eo xèo, vặt vãnh của đời/ An dân, cha đã làm người trung dung/ Hỏi rằng cha có sợ không?/ Chữ “lo sợ” quyết không nằm trong cha…”
Thơ Nguyễn Đức Tùng không giống ai, bởi ông diễn tả bằng giọng điệu và ngôn ngữ của riêng mình: Không hoa hòe hoa sói, mà bộc trực, dễ hiểu, thông dụng. Dẫu vậy, thơ ông cũng không dễ dãi, bởi có sự liên kết chặt chẽ trong một tổng thể thống nhất. Theo nhận định của nhà văn Nguyễn Chu Nhạc, “có lẽ bởi nghề nghiệp chế tạo máy của ông đã làm nên điều này.”
“Thị thành thường gọi “nhà quê”/ Mỗi khi ai muốn khinh khi một người/ Về làng thì sẽ hiểu thôi/ Nhà quê là gốc của nơi thị thành…” (Về làng).
Đề tài thơ Nguyễn Đức Tùng đa dạng mà giản dị như cuộc sống quanh ông. Mỗi bài thơ là một vấn đề ông gặp, rồi tư duy, cảm xúc viết thành thơ. Vậy là đủ để ông “chạm” tới độc giả.
Tiểu Mai