(Đọc trường ca “Trăng quầng” của Đỗ Hàn)
(Nhà thơ HỮU THỈNH)
Nhân vật chính của Trường ca này là Nhượng Tống. Ông dòng dõi họ Mạc, hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi. Sau vụ Mạc Đăng Dung, dòng họ phải đổi sang họ Hoàng hoặc họ Phạm. Ông được Phạm Bùi Cẩm ở Hà Nam nuôi dạy nên đổi tên là Hoàng Phạm Trân.
Nhượng Tống được biết đến như một nhà hoạt động văn hóa trên ba lĩnh vực: Báo chí, Viết văn và Dịch thuật.
Về báo chí, từ 1924 ông là cây bút trụ cột của tờ Thực nghiệp dân báo do Mai Du Lân làm chủ bút.
Về xuất bản, Ông cùng Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm lập ra Nam Đồng thư xã năm 1924 với những ấn phẩm bồi dưỡng lòng yêu nước của nhân dân.
Về văn chương, Ông là tác giả của các tác phẩm: Lan Hữu (Tiểu thuyết), Nguyễn Thái Học (Truyện ký), Hoàng Diệu (Kịch bản chèo) và Phất cờ nương tử…
Về dịch thuật, Ông có nhiều thành tựu hơn cả với những tác phẩm của Trung Quốc: Ly Tao, Thơ Đỗ Phủ, Mái Tây, Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh, Sử ký Tư Mã Thiên và các tác phẩm chữ Hán của Việt Nam: Lam Sơn thực lục, Đại Việt sử ký toàn thư, Liêu trai chí dị…
Nhượng Tống sống vào thời kỳ có nhiều phong trào vận động yêu nước với các xu hướng chính trị khác nhau. Đó là thời kỳ tìm đường cứu nước sôi nổi nhưng phức tạp mà không phải ai cũng chọn ngay được một hướng đi hay một đường lối đúng đắn. Điều này đã được Đỗ Hàn phản ánh trong “Trăng quầng” vừa trung thực vừa cảm thông của hậu thế. Ánh trăng mờ tỏ vừa là một hình tượng, vừa là một ẩn dụ xuyên suốt của tác phẩm. Nó vừa tạo nên không gian lịch sử vừa ám vào số phận của nhân vật. Đỗ Hàn chọn cách viết trộn lẫn sử thi và trữ tình, vừa khách quan vừa nhiều cảm khái.


Trăng là điều cuối cùng còn lại
Dạy con người học được cách yêu thương
Điều khẳng định này cũng dễ được chấp nhận bởi giá trị nhân văn của ánh trăng, nhất là trong bối cảnh “một đất nước còn thở bằng bóng tối”. Đó chưa hẳn là thứ ánh sáng giúp người ta tìm ra chân lý, nhưng cũng đem đến nhiều yêu thương, an ủi. Đỗ Hàn muốn đem tình cảm thay thế cho nhận thức. Mà nhận thức vào những năm đầu thế kỷ XX là cả một quá trình vật vã đến đau đớn. Dưới ánh trăng ấy nhu cầu tự do cá nhân đòi được ló rạng và thừa nhận như một lẽ phải thông thường và tất yếu của con người. Để làm được như vậy, thái độ của kẻ sĩ là dám nhìn thẳng, dám từ chối “Hàng cột đèn mỏi mệt soi đường cũ.” Tác giả không nói rõ “đường cũ” là đường nào. Nhưng người đọc bằng kinh nghiệm lịch sử có thể đưa ra câu trả lời – lâu nay, người ta thường hiểu: Đường cũ là con đường không bắt đầu từ dân, không bắt đầu từ nước, chạy theo con đường cải lương, thỏa hiệp, chỉ biết dùng vũ khí phê phán mà quên mất phê phán bằng vũ khí.
Dưới trăng mờ lặng lẽ
Người cầm bút trầm ngâm
Một bên là tiếng súng
Một bên là lời thơ
Một bên là giông bão
Một bên tựa sương mờ
Người nói “Phải vùng dậy”
Người đáp “Hãy khai tâm”.
Phải chăng đó là những ngả đường để lựa chọn. Tách từng việc ra là sai lầm. Con đường chân chính là gộp tất lại rồi hoạch định lấy từng bước đi cho thích hợp với từng thời đoạn lịch sử. Một giải pháp đúng đắn bao giờ cũng xuất phát từ những nhận định phân tích sáng suốt. Nhưng hình như Nhượng Tống lại không muốn nhìn nhận sự thống nhất biện chứng ấy như một nguyên tắc sống còn của kẻ mưu đại nghiệp:
Thái Học nhìn sao lửa
Nhượng Tống ngước trăng thanh
Một bên là chí sắt
Một bên là tâm lành
Người nằm trong ánh chớp
Người nằm trong trang thơ
Hai linh hồn yêu nước
Mà vỗ ở hai bờ
Nếu đó chỉ là sự khác nhau về tính cách thì đem lại sự đa dạng, phong phú trong văn chương. Còn nếu nó là sự mâu thuẫn trong phương pháp, quan điểm, đường lối thì thật là mối họa ngầm cho cách mạng.
Ở một đoạn khác, Đỗ Hàn đã nói đến thách thức hiểm nguy này: “Mây không phải từ phía quân thù/ Mà từ ngay trong hàng ngũ/ Những người đang cùng bước.” Đây không phải những lời thuận tay mà viết, mà thực sự sẽ là những suy ngẫm có căn cứ thực tiễn. Biết đâu đó cũng là một trong những nguyên nhân thất bại của Khởi nghĩa Yên Bái (1930) cũng nên. Có lẽ vậy, tôi mới thật bất ngờ trước một vầng trăng lơ lửng mang mầu sắc bi ca sau đây:
Trăng treo lẻ giữa oan khiên
Ngẩng lên còn thấy một miền tự do.
Hai chữ oan khiên trên kia có thể trở thành một từ khóa để người đọc tìm hiểu sâu thêm thế giới tâm hồn của nhân vật trung tâm, và phía sau nó là bi kịch của một xu trào. Mang nặng mối ưu tư ấy, tác giả tô đậm thêm thế giới nội tâm của Nhượng Tống.
Năm Nhượng Tống về quê
Với chiếc bóng dài hơn chiều tháng Chạp
Sau lưng là Côn Đảo
Trước mặt là lũy tre
Nơi có người mẹ già
Vẫn đun nước bằng rơm
Và con chim sáo đã quên tiếng người…
Và đây nữa:
Anh đi nhanh quá
Nhanh hơn cả sức dân còn đương ngủ mê
Cờ chưa thắm
Mà máu đã nhuộm hết trang đầu
của bản Tuyên ngôn chưa kịp đọc…
Nếu đó là thực cảnh sau thất bại Yên Bái, thì những câu thơ sau đây, lại là sự thất bại của một chủ thuyết:
Tư tưởng “hỗ trợ” coi như mộng du
Như cánh chim bay ngược chiều gió
Không ai nghe
Không ai muốn nghe
Giữa thời đại mà súng vang trời mới
là tiếng nói!
Đến đây thì tác giả có thể đi đến một cách đánh giá tổng thể về nhân vật trung tâm:
Tôi không trách anh
Nhưng sao lại chọn một cuộc khởi đầu
Bằng kết thúc
Một người không phải không có chí hướng, một người không phải không sục sôi tâm huyết khi viết:
Một dân tộc không có tinh thần tự cường
Không có lý tưởng tự trị
Chẳng khác nào chiếc thuyền không lái
Giữa sóng cả mênh mông
Ta hận từng phen quăng ngọn bút
Thêu sầu xin chớ mượn đường kim
(Thơ của Nhượng Tống tựa Ly Tao)
Ấy thế mà con người ấy cuối cùng phải chấp nhận một kết cục đáng buồn.
Trăng treo sau lũy tre đêm
Làng quê như đã ngủ quên lâu rồi
Trăng treo trên những sườn đồi
Núi đồi chen đứng chen ngồi quên trăng
120 năm liệu đã đủ độ lùi cần thiết để định danh một sự nghiệp, một thân phận, một tín điều? Nói Nhượng Tống là một nhà văn hóa có lẽ ít ai phản đối. Tôi đánh giá cao các dịch phẩm của ông vì nó bao hàm nhiều lĩnh vực văn chương, lịch sử, triết học, đạo đức học… đòi hỏi một sự uyên bác về nhiều mặt. Cái triết lý của ông Không giẫm lên người khác để đứng lên vẫn còn ý nghĩa như một tuyên ngôn về lẽ sống. Còn muốn mở rộng ra sự nhìn nhận Nhượng Tống sang địa hạt chính trị thì không thể không nhắc đến những hoạt động yêu nước dẫn đến Ông bị thực dân Pháp bắt tù đày 5 năm ở Côn Đảo và 5 năm quản thúc tại quê sau khi thoát khỏi tù ngục. Đồng thời cũng không thể bỏ qua việc ông đảm nhận chức vụ Tổng thư ký Bộ Nội vụ do Nguyễn Hải Thần làm Bộ trưởng – một phần tử cơ hội chính trị, từng dựa vào quân Tưởng chống phá điên cuồng và gây biết bao khó khăn cho chính quyền cách mạng còn non trẻ. Nguyễn Hải Thần đã không trốn được sự phán xét của lịch sử. Còn Nhượng Tống, thời gian cộng sự với Nguyễn Hải Thần không dài nên những tiêu cực do sai lầm chính trị của ông gây ra đã làm tổn thương đến tính toàn vẹn của một nhà văn hóa.
Có lẽ vì sự vênh lệch giữa các hoạt động văn hóa và chính trị của Nhượng Tống đã làm khó cho tác giả nên ánh sáng của “Trăng quầng” là thứ ánh sáng ảo não nhiều hơn là mộng mơ, bị che khuất nhiều hơn là soi tỏ. Đó là ánh sáng từ trái tim của tác giả nặng lòng vì khoan dung, lấy sự phân ưu để làm khuây khỏa bớt phần bi kịch. Tâm của tác giả là thứ tâm lành mà người ta có thể bắt gặp suốt từ trang đầu đến trang cuối của tác phẩm. Vì vậy “Trăng quầng” được xem là tác phẩm để người ta suy ngẫm về một con người trong một thời đoạn phức tạp, ngổn ngang và không ít rối ren của lịch sử.
Hà Nội, ngày 24.12.2025.
H.T