Phạm Thị Hồng Thu
Thuở còn cắp sách đến trường, được nghe các thầy cô giáo giảng bài, được đọc sách báo về các trận chiến của quân dân ta chống quân Nam Hán, quân Tống, quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng mà ước được một lần đến để chiêm bái, ngưỡng mộ và tri ân. Nay đã nhiều lần được về với Bạch Đằng Giang, về với huyền thoại những thời rực lửa, về với dòng sông mênh mông sóng vỗ, lồng lộng gió biển Đông, lần nào về cũng xúc động rưng rưng.
Bạch Đằng Giang ngày xưa có tên là sông Vân Cừ, sông Rừng là con sông giáp ranh giữa huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng và thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh. Điểm đầu của sông là Phà Rừng, Hải Phòng và điểm cuối là cửa Nam Triệu cũng ở Hải Phòng. Sông Bạch Đằng nằm trong hệ thống sông Thái Bình, có năm nhánh sông phụ chảy vào và có ba nhánh đổ ra biển. Mặc dù chỉ dài 32 km nhưng sông Bạch Đằng có vị trí vô cùng quan trọng. Từ biển Đông qua cửa sông Bạch Đằng có thể tiến về Thăng Long theo các con sông Kinh Thầy, sông Đuống và sông Hồng. Ngày nay, tàu trọng tải 3 – 400 tấn vẫn có thể vận chuyển hàng hóa từ cửa biển Năm Triệu đến Thủ đô Hà Nội.
Sông Bạch Đằng có độ chênh lệch thủy triều rất lớn, khoảng 4 mét, lòng sông rộng và sâu. Hiểu được đặc điểm quan trọng này, ông cha ta đã có những chiến công vang dội trên sông Bạch Đằng khiến cho quân thù khiếp sợ, tâm phục khẩu phục. Bố trí bãi cọc trên sông mới nghe tưởng dễ nhưng thời bấy giờ cách đây hơn cả ngàn năm, chỉ có sức người làm ta sao có thể đóng được hàng trăm cây cọc gỗ lim đầu bịt sắt nhọn, to, dài xuống lòng sông sâu, lại sóng lớn, nhiều bùn? Quả là một câu hỏi đau đầu cho các nhà nghiên cứu lịch sử. Ngày nay, dấu tích bãi cọc vẫn còn nhiều nơi như ở trên sông Bạch Đằng, Yên Giang, đồng Vạn Muối, đồng Má Ngựa ở Quảng Ninh và bãi cọc cao Quỳ ở Hải Phòng. Gần đây lại phát hiện thêm bãi cọc ở đền Vạn Kiếp trong khu di tích Côn Sơn Kiếp Bạc.
Khách tham quan đến các bãi cọc ở các nơi thì ít nhưng đến với khu di tích Quốc gia đặc biệt Bạch Đằng Giang thì rất đông. Đặt ở vị trí trung tâm nhất của khu di tích nhìn ra Bạch Đằng lộng gió, mênh mông sóng nước là tượng ba vị anh hùng kiệt xuất, oai phong lẫm liệt của dân tộc ta. Tượng nhà vua Ngô Quyền đứng giữa chỉ tay ra phía trước thật ý nghĩa. Bàn tay chỉ thẳng thể hiện tư thế uy nghi, khí phách anh hùng, dũng mãnh của vị vua, vị tướng sẵn sàng tiêu diệt bất cứ kẻ thù nào xâm lược đất nước ta. Bàn tay chỉ thẳng còn khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc ta, khẳng định không một kẻ thù nào có thể xâm phạm. Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã mở ra một kỷ nguyên mới hào hùng trong lịch sử dân tộc. Nó kết thúc ách đô hộ hàng ngàn năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài, bền vững của giang sơn.

Tiếp nối Chiến Thắng oanh liệt của Ngô Quyền, nhà vua Lê Đại Hành cũng làm cho quân Tống khiếp sợ trên sông Bạch Đằng năm 981, đập tan mưu đồ xâm lược Đại Việt của quân Tống, giữ vững nền độc lập tự chủ dân tộc và tiếp tục khẳng định tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân ta.
Và một trận chiến ghi dấu ấn trong sử vàng dân tộc đưa tên tuổi của vị chỉ huy vào top 10 vị tướng tài nhất thế giới trong Bảo tàng Hoàng gia Anh, đó là Quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Thế kỷ 13, đế chế Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn chỉ huy đã làm chủ thế giới, vó ngựa quân Mông Cổ bay đến đâu cỏ cây đổ rạp đến đó, người người chen nhau chạy trốn. Nhưng ba lần sang Việt Nam 1257, 1285, 1287, với lực lượng hùng hậu gấp nhiều lần quân ta, chúng đều thua đau. Đặc biệt trận chiến trên sông Bạch Đằng là đỉnh cao của tài cầm quân, cách bày binh bố trận, cách chọn thời điểm, địa điểm, cách khích lệ động viên tướng sĩ của vị chủ tướng tài ba Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Trận đại thắng trên sông Bạch Đằng được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam. Đây cũng là thắng lợi quan trọng buộc quân Nguyên Mông phải chấm dứt mộng bành trướng.
Cửa biển Bạch Đằng mênh mông gió lộng. Bãi cọc vẫn còn đó, người hùng như vẫn đâu đây, phảng phất mùi trầm thoảng bay trong gió, thấp thoáng thuyền lướt trên sông, tiếng quân reo hò vang dội, lửa đỏ rực cả góc trời.

Nơi đây Giang sơn vượng khí Bạch Đằng thâu (Phạm Sư Mạnh). Khí thiêng sông núi tụ ở Bạch Đằng, linh hồn đất Việt hiển hiện nơi đây. Bạch Đằng Giang muôn đời lộng gió:
Lồng lộng lồng lộng
Gió hát, sóng hát
Bạch Đằng mênh mông bát ngát
Nước người gặp gỡ kì công
Nhè nhẹ nhè nhẹ
Lên xuống như không
Thủy triều ôm cọc vào lòng
Mắt diều thể nào soi thấu
Hùng hùng hổ hổ
Không để mất dấu
Đuổi theo quân ta quyết đấu
Nào ngờ mồ chẳng được xây
Khí thiêng hội tụ
Hào kiệt còn đây
Muôn đời dân Việt ơn ngày
Ba quân hiển hách rợp bay cờ hồng.
Hải Phòng 1/2026